Blogger Themes

Chứng khoán cho mọi người

Phần 1: Sơ lược về chứng khoán

Dữ liệu Chứng khoán

Báo cáo Tài chính / Thực hiện quyền

Liên hệ

Facebook / Google+
Showing posts with label Lãi suất. Show all posts
Showing posts with label Lãi suất. Show all posts

Monday, September 12, 2011

Sẽ lập nhóm ngân hàng “G12 + 1”

Thành lập nhóm “G12 + 1”, khoanh vùng 12 ngân hàng mất cân đối nguồn, trong đó có 5 ngân hàng bị trọng bệnh để “điều trị”, kỷ luật nghiêm xé rào trần lãi suất 14%/năm… là những hành động tiếp theo sẽ được Ngân hàng Nhà nước áp dụng trong thời gian tới.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

NHNN đang ráo riết đưa lãi suất huy động về mức thực 14%
Đồng thuận, sẽ hết mặc cả!

Ngân hàng Nhà nước đang ráo riết hành động để duy trì trần lãi suất tiền gửi ở mức 14%, làm cơ sở kéo lãi suất tiền vay xuống 17% - 19%. 

Tại cuộc họp sơ kết Nghị quyết 11 ngày 7/9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình nói: “Nhiều người hỏi rằng: lãi tiền gửi 14%/năm thì dân có gửi hay không? Tôi khẳng định: nếu tất cả ngân hàng cùng thực hiện trần 14% thì người dân vẫn gửi tiền. Chỉ vì đứng núi này, trông núi nọ, đưa lãi cao hơn để giành khách thì thị trường mới loạn như thế”.

Điều ông Bình nói không phải không có cơ sở, vì theo tìm hiểu của người viết, trong các ngày 8 và 9/9, đã có hai ngân hàng thương mại cổ phần có trụ sở tại Hà Nội bị khách hàng rút đi 1.200 tỷ đồng. Trong đó, một ngân hàng bị rút đi 500 tỷ đồng, còn ngân hàng kia bị rút đi 400 tỷ đồng trong ngày 8/9 và 300 tỷ đồng trong ngày 9/9/2011.

Theo tổng giám đốc một ngân hàng, việc phát hiện các ngân hàng xé rào không thực sự khó, nếu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các địa phương quan sát trên hệ thống sổ sách, báo cáo của từng ngân hàng sẽ phát hiện những biến động bất thường.

Ví dụ, một khách hàng bỗng nhiên rút 100 tỷ đồng ở ngân hàng này nhưng sau đó lại thấy người này đem 100 tỷ đồng đó gửi ở ngân hàng khác. Sau khi đối chiếu, so sánh thời gian rút, số lượng tiền bị rút, các yếu tố nhân thân khách hàng (tên tuổi, số chứng minh thư, hộ khẩu…) thì Ngân hàng Nhà nước sẽ nghi vấn ngay xé rào lãi suất. “Cả hệ thống cùng áp dụng một mức 14%/năm thì không lý gì khách hàng lại rút tiền từ ngân hàng này gửi ngân hàng khác cả!”, vị tổng giám đốc này nói.

Còn theo ông Nguyễn Văn Lê, Tổng giám đốc SHB, chấp hành chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước, SHB đã chấn chỉnh ngay trong hệ thống không được xé rào lãi suất 14% và dành hai gói vốn ngắn hạn, lãi suất 17% - 18% trị giá 6.200 tỷ đồng cho vay doanh nghiệp.

Tính đến thời điểm này, hầu hết ngân hàng đều dán “cáo thị” nghiêm cấm lách lãi suất tiền gửi từ hội sở đến các chi nhánh và phòng giao dịch. Tuy nhiên, tổng giám đốc một ngân hàng cổ phẩn cho rằng, để đồng thuận và thực hiện nghiêm túc theo Chỉ thị 02 thì Ngân hàng Nhà nước phải xử lý nghiêm đối với hành vi xé rào và công bố rộng rãi trên phương tiện thông tin đại chúng. Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước cũng phải có biện pháp can thiệp kịp thời trên lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn đối với những ngân hàng mất cân đối nguồn trong thời gian vừa qua.

Ra tay

Có thể nói, việc đưa lãi suất xuống 14%/năm dường như đã trở thành quyết tâm chính trị cao nhất trong toàn hệ thống ngân hàng hiện nay, mà lời khẳng định của Thống đốc Nguyễn Văn Bình tại hội nghị sơ kết Nghị quyết 11 là một dẫn chứng. Ông Bình nói: “Phải đưa hoạt động ngân hàng đi vào nề nếp, khuôn khổ nhưng minh bạch, phục vụ tốt hơn cho nền kinh tế và lấy lại danh dự của ngành trong con mắt người dân”.

Theo Thống đốc, bước đi đầu tiên là Ngân hàng Nhà nước sẽ thành lập nhóm 12 ngân hàng lớn, chiếm tới 85% thị phần, cùng với Ngân hàng Nhà nước, tạm gọi là “G12 + 1”. Mỗi quý nhóm sẽ họp một lần, kể cả khi thị trường “sóng yên biển lặng” nhằm mục đích trao đổi hoạt động nghiệp vụ, để nâng cao hơn nữa tính tương tác giữa thị trường và cơ quan quản lý. Trong trường hợp thị trường biến động phức tạp, nhóm “G12 + 1” sẽ họp bất cứ lúc nào để xử lý tình hình.

Để nhóm hoạt động có hiệu quả, sẽ thành lập Ban thư ký do Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) làm trưởng ban, phối hợp chặt chẽ với 12 thành viên nói trên để nắm bắt tình hình, chuẩn bị nội dung và kiến nghị giải pháp xử lý để đưa ra cuộc họp thường kỳ với “G12 + 1”.

“Với cách làm như vậy, chính sách ban hành sẽ sát hơn với thực tế. Khi đó, tất cả phải chấp hành, tổ chức tín dụng nào vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm túc. Vì đó là cách để bảo vệ quyền lợi của toàn ngành và của các tổ chức tín dụng. Ngược lại, Ngân hàng Nhà nước ban hành chính sách mà các tổ chức tín dụng không thực hiện được thì đó là trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước”, Thống đốc nói.

Thứ hai, cũng theo Thống đốc, sau khi đã duy trì trần lãi suất tiền gửi 14%/năm thì lãi suất tiền vay ở mức 17% - 19% là phù hợp. Có ngân hàng đề nghị là nên đa dạng hóa mức lãi suất cho vay hơn nữa tùy theo loại hình khách hàng nhưng Thống đốc cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, với khoảng từ 17% - 19%, ít nhất có 3 mức lãi suất để đa dạng và đó là điều hợp lý.

Thứ ba, để đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn thực dương cho lãi suất tiền gửi, Ngân hàng Nhà nước cho rằng, lạm phát kỳ vọng năm tới tính ở mức cao nhất chỉ ở mức 12% và so với lãi suất tiền gửi 14% đã hoàn toàn thực dương.

Thứ tư, cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tái cấp vốn theo nguyên tắc: người mua bán cuối cùng trên thị trường đối với những tổ chức tín dụng khó khăn. Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước đã lọc ra khoảng 12 tổ chức tín dụng mất cân đối giữa nguồn và sử  dụng nguồn, trong đó có 5 tổ chức tín dụng mất cân đối lớn, có biểu hiện vay mượn rất nóng trên thị trường trong thời gian qua. Ngân hàng Nhà nước sẽ làm việc và có biện pháp xử lý ngay với 5 đơn vị này theo hướng tái cấp vốn để đảm bảo thanh khoản cho họ.

Tuy nhiên, vì tình hình tài chính của họ không lành mạnh nên Ngân hàng Nhà nước sẽ có chương trình tạm gọi là “điều trị” hoặc “chữa bệnh” cho họ. Khi nào họ khỏi bệnh, mới được tiếp tục hoạt động bình thường. Còn trong khi đang “điều trị”, đề phòng khả năng họ lây nhiễm sang ngân hàng khác, khi nào họ “chữa trị” xong mới được quay trở lại với cộng đồng.

Thứ năm, liên quan đến xử lý vi phạm xé rào lãi suất, ngay trong ngày 7/9, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành công văn số 7020/NHNN-TTGSNH về việc “kế hoạch thanh tra các tổ chức tín dụng trong nước từ nay đến cuối năm 2011”. Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước sẽ thanh tra định kỳ về cấp tín dụng, ứng trước, thanh tra đầu tư tài chính, góp vốn mua cổ phần…

Cùng đó, Ngân hàng Nhà nước cũng tiến hành thanh tra đột xuất hoạt động công ty mua bán nợ, công ty con của tổ chức tín dụng, kể cả  phối hợp với Bộ Tài chính để thanh tra công ty chứng khoán.

Liên quan đến hoạt động này, thanh tra Ngân hàng Nhà nước đã thanh lọc 10 ngân hàng có biểu hiện tăng tín dụng quá 20% và lập biên bản với 2 ngân hàng biến tướng tín dụng dưới nhiều hình thức “ủy thác đầu tư”, “tài khoản phải thu”, yêu cầu 2 đơn vị này đình chỉ hoạt động cho vay, thu hồi nợ để hạch toán đúng đủ, đưa dư nợ vào đúng khuôn khổ.

                                                                                                                      (Theo VnEconomy)

Tuesday, September 6, 2011

Giảm lãi suất: “Rừng mơ” sẽ đủ quả?

Dồn dập các chương trình ưu đãi lãi suất vừa được tung ra có hứa hẹn “rừng mơ” hạ lãi suất sắp tới là có thực và sẽ sai quả?

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

NHNN đã và đang có nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ hạ lãi suất
Hồi thứ 21 của bộ tiểu thuyết cổ điển “Tam quốc diễn nghĩa” có chi tiết đã thành điển tích.

Chuyện là, trong lần uống rượu luận anh hùng, Tào Tháo cầm tay Huyền Đức đi dạo vườn nhà và tiết lộ: “Vừa rồi thấy trên cành mai đã có quả xanh, sực nhớ khi trước đi đánh Trương Tú, đi đường không có nước, tướng sĩ khát cào cuống họng. Bấy giờ ta nghĩ được một kế, cầm roi trỏ hão nói rằng: “Trước mặt có rừng mơ”. Quân sĩ nghe nói đến mơ, ai cũng ứa nước dãi, đỡ được khát nước. Nay có mơ thật, nên hái xuống mà thưởng”.

Giữa cây và rừng…

Ngày 3/8/2011, ông Nguyễn Văn Bình chính thức được bổ nhiệm làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Thông điệp đầu tiên mà ông đưa đến công chúng là sẽ giảm lãi suất cho vay về 17% - 19% trong tháng 9.

Thông điệp này nhanh chóng trở thành một “rừng mơ” với doanh nghiệp, người dân vay vốn. Bởi lãi vay thời gian qua quá cao, định hướng giảm lãi suất theo đó là một động lực được mong chờ. Không kiểm chứng được độ “giải khát” của thông điệp đó ở mỗi người đi vay, nhưng một biểu hiện tham khảo là sự phản ứng tích cực của thị trường chứng khoán...

Nay, “rừng mơ” đó không phải là trỏ hão như trong kế của Tào, mà như đang có thực trong hệ thống của các ngân hàng thương mại.

Từ cuối tháng 8, thị trường bắt đầu đón nhận các gói tín dụng ưu đãi lãi suất từ một số nhà băng. Đó là Techcombank với cơ chế hỗ trợ từ 19,5%/năm, Eximbank “mềm” hơn với từ 17%/năm… Rồi dồn dập các chương trình của ACB, HDBank, ABBank, SHB. Mới nhất là từ hôm nay (6/9) với BIDV, VPBank. Và dự kiến sắp tới sẽ có thêm nhiều thành viên nhập cuộc.

Nhưng, vẫn có những hoài nghi. Nhìn những cây riêng lẻ chưa thể tả rừng. Hoài nghi bởi trước đây đã có rất nhiều gói tín dụng ưu đãi được công bố trong bối cảnh tương đồng, nhưng rốt cuộc thông tin kiểm chứng về khả năng tiếp cận của khách hàng, về thực tế giải ngân như thế nào gần như là không được công bố; và dĩ nhiên ở đây không phải là yêu cầu kiểm tra. Mặt khác, những cây riêng lẻ đó có đại diện được cho cả khu rừng, những gói 2.000 - 3.000 tỷ đồng đó có đủ để che cho con số hàng trăm nghìn tỷ đồng, thậm chí có thể cả triệu tỷ đồng, đang chịu lãi suất rất cao?

Ở góc nhìn tích cực, đó lại được xem là những tín hiệu đầu tiên. Và khi những chương trình ưu đãi được mở rộng có thể sẽ tạo thành xu hướng. Hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước đã và đang có những điều chỉnh kỹ thuật để hỗ trợ cho thông điệp hạ lãi suất hiện thực hơn. Bên cạnh đó, còn sớm để khẳng định nhưng sự cải thiện của tăng trưởng huy động vốn trong tháng 8 vừa công bố cũng là một hậu thuẫn.

Và theo nguồn tin của VnEconomy, trong tuần này dự kiến Ngân hàng Nhà nước sẽ có cuộc họp mở rộng với các ngân hàng thương mại. Có thể qua cuộc họp này chủ trương hạ lãi suất sẽ tiếp tục được chỉ đạo triển khai quyết liệt hơn (?).

Vẫn còn nặng gánh…

Ngày 5/9, thông tin Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đưa ra chương trình giảm lãi suất về 18% - 19% cho các doanh nghiệp được chú ý. Khi nhận thông tin này, lãnh đạo một ngân hàng khác trầm tư rằng: “Họ là ngân hàng nhà nước, có những điều kiện thuận lợi hơn. Còn chúng tôi vẫn còn nhiều khó khăn về chi phí…”.

Từ cuối tháng 8/2011, Ngân hàng An Bình (ABBank) đã triển khai chương trình giảm 1,5% lãi suất đối với cá nhân, hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân vay vốn sản xuất kinh doanh. Ngân hàng này đang có kế hoạch dành hơn 1.000 tỷ đồng tài trợ doanh nghiệp xuất khẩu với lãi suất 18,5% - 19%/năm, hay 2.000 tỷ đồng có riêng tại Sở Giao dịch…

Nhưng bà Trần Thanh Hoa, Tổng giám đốc ABBank, cũng thận trọng khi nhận định rằng sẽ khó để giảm nhanh lãi suất.

“Việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo hạ dần lãi suất cho vay là một tín hiệu đáng mừng. Theo tôi, việc giảm lãi suất có thuận lợi là được sự đồng thuận và quyết tâm của tất cả các ngân hàng, đồng thời nhiều ngân hàng cũng đang sở hữu nguồn vốn dồi dào, sẵn sàng hỗ trợ các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

Tuy nhiên, việc thực hiện giảm lãi suất vẫn gặp phải một số khó khăn như mức lạm phát cao khiến lãi suất huy động vẫn còn khá cao và một số biến động khác trên thị trường như giá vàng, giá USD tăng cao cũng ảnh hưởng đến việc điều tiết lãi suất… Vì vậy việc giảm lãi suất cho vay chỉ có thể thực hiện dần dần và phải mất một thời gian để đạt mức lãi suất 17% - 19% như mong muốn”, bà Hoa nói.

Và như đề cập ở bài viết trước, bên cạnh chi phí huy động cao, các ngân hàng vẫn phải dự phòng cho khả năng biến động những tháng cuối năm và gối đầu cho năm tới. Đó là mùa cao điểm của lạm phát, cao điểm nhu cầu thanh toán và cầu vốn, thanh khoản và lãi suất có thể lại chịu sức ép khiến định hướng giảm lãi suất hiện nay khó bền vững.

Ở một mối liên hệ khác, nếu lãi suất cho vay giảm về 17% - 19% từ giữa tháng 9, tiếp tục giảm thêm sau đó, cơ hội vay vốn có mở rộng hay không? Ở đây lại vướng rào cản 20% tăng trưởng tín dụng. Lãi suất giảm sẽ kích thích nhu cầu vay tăng lên trong khi cung vốn có giới hạn, hoặc còn vướng những nút thắt. “Rừng mơ” theo đó cũng khó để sai quả.

Tại khá nhiều ngân hàng thương mại, giới hạn 20% tín dụng đang là một gánh nặng. Ngân hàng Bảo Việt (BaoVietBank) là một điển hình.

Trả lời VnEconomy tại cuộc họp báo tuần qua, ông Phan Đào Vũ, Tổng giám đốc BaoVietBank, cho biết đó thực sự là một khó khăn khiến ngân hàng này không thể đẩy mạnh cho vay dù lãi suất theo chủ trương có giảm.

Hiện tăng trưởng tín dụng của BaoVietBank đã đạt khoảng 16%, tức từ nay đến cuối năm còn gần 4% theo chỉ tiêu. Trước đó, BaoVietBank đã kiến nghị Ngân hàng Nhà nước cho phép được tăng trưởng 100%, chí ít cũng cần 50% nhưng không được chấp nhận.

Không chỉ riêng BaoVietBank, ngay từ đầu tháng 6, thông tin tại cuộc họp giữa lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng phía Nam cũng đã cho biết tại thời điểm đó đã có trên chục ngân hàng lớn nhỏ cận “room” tăng trưởng tín dụng 20%, cá biệt một số đã vượt giới hạn. Ngược lại, đến nay nhiều ngân hàng lớn khác tăng trưởng tín dụng vẫn chỉ ở mức thấp.

Thế nên, điều mà thị trường chờ đợi là Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục có những biện pháp cụ thể như thế nào để điều hòa vốn từ chỗ thừa sang chỗ thiếu, tạo những nguồn nước cần thiết để chăm sóc “rừng mơ” cho đủ quả…

                                                                                                                        (Theo VnEconomy)

Tuesday, August 30, 2011

Sửa tiếp Thông tư 13: Khơi thông vốn, hỗ trợ giảm lãi suất

Ngân hàng Nhà nước chính thức hủy bỏ quy định quan trọng trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, khơi thông nguồn vốn và tạo thêm điều kiện để các tổ chức tín dụng có thể giảm lãi suất.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

Khơi thông nguồn vốn, hạ chi phí vốn, giúp lãi suất cho vay
Ngày 30/8/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số 22/2011/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, đã được sửa đổi bởi Thông tư số 19/2010/TT-NHNN.

Với Thông tư số 22, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức cụ thể hóa định hướng đưa ra trước đó, chính thức hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động quy định tại Thông tư 13, được sửa đổi, bổ sung sau đó bởi Thông tư 19.

Bên cạnh đó, Thông tư số 22 cũng điều chỉnh hệ số rủi ro đối với một số tài sản có bằng ngoại tệ khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Thông tư số 22/2011/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2011.

Như vậy, một lần nữa Thông tư số 13/2010/TT-NHNN tiếp tục được sửa đổi. Đây là thông tư thu hút sự quan tâm lớn nhất của dư luận, cũng như các thành viên thị trường trong năm 2010 bởi những quy định gây nhiều tranh luận và phản ứng khác nhau.

Trước thời điểm Thông tư số 13 có hiệu lực (1/10/2010), 14 ngân hàng thương mại qua đầu mối là Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã có kiến nghị tập trung vào những quy định được cho là không hợp lý và gây khó khăn trong hoạt động của họ.

Kiến nghị trên đã được Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước xem xét sửa đổi. Sát thời điểm có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước đã có Thông tư số 19 với một số điểm sửa đổi cơ bản.

Và nay, với Thông tư số 22 vừa ban hành, một nội dung quan trọng của Thông tư số 13 là tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động đã được hủy bỏ.

Theo định hướng Ngân hàng Nhà nước đưa ra cuối tuần qua, việc điều chỉnh này nhằm tạo sự luân chuyển và điều hòa vốn giữa thị trường 1 và thị trường 2, giữa tổ chức tín dụng thừa và tổ chức tín dụng thiếu vốn, giúp các tổ chức tín dụng thiếu vốn có điều kiện tăng trưởng tín dụng trong giới hạn 20% và hạ được lãi suất cho vay.

Như vậy, quy định các tổ chức tín dụng chỉ được cấp tín dụng 80%/85% từ vốn huy động và những hạn chế liên quan đến việc xác định mẫu số “vốn huy động” đã được tháo gỡ.

Trước đó, việc không đưa tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội, hay ngay cả phần vốn tự có… vào “vốn huy động” để tính tỷ lệ trên, hay ngay cả tiền vay tổ chức tín dụng nước ngoài về cho vay lại cũng bị giới hạn 80%... được các thành viên thị trường cho là bất hợp lý; thậm chí là lo ngại những nguồn vốn đó sẽ bị “nằm chết”.

Với Thông tư 19 sửa đổi, bổ sung sau đó, tỷ lệ 80%/85% nói trên được xác định là từ vốn huy động, tức các nguồn khác đặc biệt là vốn tự có của tổ chức tín dụng không bị lệ thuộc vào giới hạn này. Bên cạnh đó, Thông tư 19 cũng đã xem xét lại việc tính thêm các nguồn vốn nói trên nhưng áp các hạn chế về kỳ hạn, hoặc chỉ cho tính một tỷ lệ thấp (như chỉ cho dùng 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế để cho vay)…

Giới hạn về tỷ lệ cấp tín dụng nói trên thời gian qua đã có nhiều ý kiến phản biện, tập trung ở việc hạn chế nguồn vốn, hay cách nói vốn bị “nằm chết” trong kiến nghị của 14 ngân hàng nói trên, hoặc gạt bỏ giá trị của những dòng vốn khi chảy qua kênh ngân hàng (như tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn khi tập trung tại ngân hàng thì có thể khai thác ở giá trị tín dụng). Và điều này ảnh hưởng đến chi phí của các tổ chức tín dụng, khiến lãi suất cho vay bị đội lên.

Lần sửa đổi này, với việc hủy bỏ quy định nói trên, một rào cản trong sử dụng vốn để cho vay được gỡ bỏ, đồng nghĩa với các tổ chức tín dụng có thêm điều kiện để tận dụng các nguồn vốn để đẩy mạnh cho vay, cũng như giảm thêm chi phí để có thêm cơ sở thực tế hưởng ứng chủ trương hạ lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

Đây cũng là một phương án mà Ngân hàng Nhà nước triển khai theo thông điệp sẽ điều chuyển vốn từ chỗ thừa sang chỗ thiếu, để các nhà băng có thêm điều kiện cho vay và giảm lãi suất như đề cập ở trên. Đây cũng là một giải pháp hỗ trợ giảm lãi suất bằng sự cân đối lại các nguồn vốn trong hệ thống, thay vì tăng cung tiền để giảm lãi suất có thể dẫn tới áp lực tăng lạm phát.

Và có thể hiểu đó cũng là lý do chính để Ngân hàng Nhà nước ấn định ngày có hiệu lực của Thông tư số 22 là ngay từ 1/9 này - thời điểm bắt đầu “tính” thực tế khả năng giảm lãi suất cho vay theo thông điệp rút về 17% - 19%/năm mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhiều lần đưa ra.

Điều đó cho thấy nhà điều hành đang gấp rút triển khai các điều chỉnh chính sách, dù ở đây có thể có một vướng mắc về kỹ thuật ban hành văn bản, theo quy định thời điểm hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành…

                                                                                                                             (Theo VnEconomy)

Sunday, August 28, 2011

Tổ chức đầu tư thận trọng với khả năng giảm lãi suất

Trước định hướng của Ngân hàng Nhà nước, một số tổ chức đầu tư nhìn nhận lãi suất sẽ không giảm nhiều, trong khi có rủi ro liên quan cần dè chừng.

> Nhập khẩu tăng đột biến trong tháng 8

Lãi suất giảm sẽ khiến dòng vốn chạy ra khỏi tiền đồng?
Cuộc họp được trông đợi giữa Ngân hàng Nhà nước với 12 ngân hàng lớn cuối tuần qua ít nhiều cũng đã có thêm thông tin cho thị trường.

Điểm được quan tâm là các ngân hàng lớn đã đồng thuận với Ngân hàng Nhà nước về định hướng giảm lãi suất trong thời gian tới. Nhưng theo thông tin về cuộc họp đó, đồng thuận ở đây là về chủ trương.

Giả sử, tại cuộc họp đó, ngay cả khi có một đồng thuận cụ thể về các điểm đến của lãi suất, thì “như nhiều lần trước trong 5 - 6 năm qua, những thỏa thuận như vậy thường không được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế” - theo đúc kết của một tổ chức đầu tư.

Trước cuộc họp trên, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt (VCSC) có một báo cáo phân tích chuyên đề về tiền tệ, trong đó có một kết luận rằng, “vẫn còn quá sớm để ăn mừng chiến thắng”, đặt trong xu hướng giảm lãi suất.

VCSC cho rằng những giải pháp mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đưa ra mới đây có thể giúp lãi suất giảm thêm 1% - 1,5%/năm, nhưng không nhiều như mức mà Ngân hàng Nhà nước mong đợi là 3% - 4%/năm.

“Hiện tại, lãi suất huy động tiền đồng có thể đàm phán vẫn ở mức 17% - 20%/năm và lãi suất cho vay phổ biến là 20% - 22%/năm giảm đáng kể so với mức đỉnh trong tháng 6 là 19% - 21% và 22% - 24%/năm. Tình hình đã cải thiện, nhưng vẫn còn quá sớm để ăn mừng chiến thắng”, báo cáo của VCSC viết.

Trong nhận định của mình, Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM (HSC) cũng thận trọng khi nói rằng: “Mặc dù chúng tôi chờ đợi động thái giảm lãi suất cho vay, có lẽ từ phía các ngân hàng quốc doanh khoảng 0,5% - 1%, thì cũng cần lưu ý rằng Ngân hàng Nhà nước không còn nhiều chỗ để tự do thực hiện chính sách tiền tệ. Và cơ quan này cũng hiểu rõ điều đó”.

Còn theo nhận định của một tổ chức đầu tư lớn khác là Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long (TLS), trước mắt, lãi suất cho vay nhiều khả năng chưa thể giảm sâu, nhưng lại nổi lên sức ép về vấn đề ổn định tỷ giá giữa VND và USD.

Sức ép mà TLS đặt ra cũng được HSC nhấn mạnh trong phân tích của mình, đặt trong mối liên hệ với lãi suất: “Lãi suất chắc chắn sẽ giảm nhưng chỉ giảm nhẹ và cùng nhịp với tốc độ tăng CPI theo năm. Sau cùng, nếu lãi suất cho vay bị ép giảm quá nhanh thì sẽ có rủi ro làm đảo ngược dòng vốn đầu cơ hưởng chênh lệch giữa lãi suất tiền đồng và USD; khiến dòng vốn này chảy ra khỏi tiền đồng, gây áp lực lên tỷ giá. Và điều này đến lượt mình sẽ dẫn đến sự bất ổn về lâu dài đối với tình hình kinh tế vĩ mô”.

Trong khi đó, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) lại lạc quan khi nhìn nhận về áp lực từ mối liên hệ đó.

“Tỷ giá thời gian gần đây có dấu hiệu tăng. Áp lực tăng không phải là một bất ngờ, chúng tôi cho rằng không có cơ sở cho rằng tỷ giá sẽ có những biến động mạnh trong tương lai gần. Lãi suất hạ có thể khiến áp lực tỷ giá trở lại sau thời kì người dân chuyển mạnh sang VND để gửi tiết kiệm, tuy nhiên mức giảm của lãi suất khó đột ngột. Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền vẫn còn quá lớn, nên dù có thu hẹp thì lợi thế của việc nắm giữ VND vẫn vượt trội đáng kể so với rủi ro. Biến động của tỷ giá ít khả năng vượt ngoài sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước”.

Còn trên thực tế, dĩ nhiên là xuất phát từ những tác động khác nhau, một số kênh thông tin chính thống đã bắt đầu đề cập đến tình trạng hai tỷ giá trong chính hệ thống ngân hàng, bên cạnh sự nóng lên của tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do.

Theo đó, cuối tuần qua đã có hiện tượng ngân hàng thương mại bán ra USD với giá cao hơn trần cho phép từ 200 - 300 VND. Và như vậy, bên cạnh tình trạng lãi suất huy động vượt trần thì “nạn” hai tỷ giá cũng đang nhăm nhe trở lại.

Oái ăm là diễn biến mới đó có ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước tự tin công bố rằng, với lượng dự trữ ngoại tệ hiện nay, nhà điều hành “dư sức để can thiệp bình ổn thị trường ngoại hối trong mọi tình huống”, cũng như “hoàn toàn có cơ sở kinh tế để đảm bảo ổn định tỷ giá trong những tháng cuối năm 2011”.

                                                                                                                       (Theo VnEconomy)

Tuesday, August 23, 2011

Lãi suất thực dương: Khi Thống đốc cải chính

Tuần trước, Thống đốc Nguyễn Văn Bình phát biểu trên một tờ báo, “định hướng lâu dài lãi suất tiền gửi không thể thực dương”, và “trong điều kiện bình thường, không nhất thiết lãi suất tiền gửi phải cao hơn lạm phát”.

> Giảm lãi xuất: Tháng 9 đã rất gần / Xếp hạng tín dụng còn đáng tin cậy?

> Thị trường vàng xuất hiện cảnh 2 giá / Vàng thế giới lập đỉnh mới 1.917,9 USD/ounce

> CPI tháng 8 tại Tp.HCM tăng thấp nhất trong 12 tháng / Tăng 1,06%, CPI tháng 8 tại Hà Nội chưa như kỳ vọng

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD


Mục tiêu hàng đầu hiện nay làm kiềm chế lạm phát
Cho rằng “do diễn đạt chưa chuẩn”, nên nhà báo đã đăng tải sai ý trong vấn đề “lãi suất thực dương”, tại cuộc giao ban báo chí ngày 23/8, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã cải chính lại nội dung trên.

Cải chính hay phân bua thật cần thiết khi bị hiểu nhầm hoặc lỡ lời, nhưng điều nhiều doanh nghiệp cần hơn lúc này là tính khả thi của lời tuyên bố của Thống đốc: lãi suất giảm xuống 17 - 19%/năm vào tháng 9 tới. Và, thị trường đang nín thở chờ đợi.

Tại sao lãi suất phải thực dương?


Chuyên gia tài chính Vũ Đình Ánh (hiện công tác tại Bộ Tài chính) nói: “Khi tôi đọc thấy tuyên bố: không thể có nguyên tắc lãi suất thực dương, tôi rất sốc. Ngân hàng là trung gian tài chính mà ở đó, họ thu hút nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, sau đó cho vay những ai cần; thực hiện chức năng phân phối nguồn vốn từ tiết kiệm đến đầu tư. Không thể lập luận, “người dân gửi tiền vào ngân hàng để ngân hàng giữ hộ thôi, còn muốn tốt hơn thì đi kinh doanh”.

Tại sao lãi suất phải thực dương? Trao đổi với người viết, ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, nói: “Tôi hy vọng đến tháng 9/2011 lãi suất sẽ giảm. Vài tuần qua, lãi vay đã giảm vài phần trăm, nhất là ở các ngân hàng lớn. Cơ sở ở đây là lạm phát tính theo tháng đang có xu hướng giảm dần”. Điều này cho thấy, muốn giảm lãi suất thì phải kéo lạm phát xuống. Khi đó, lãi suất tiền gửi hạ theo, nhờ đó có thể giảm lãi suất tiền vay. Như vậy, giữa lạm phát và lãi suất có mối quan hệ rất chặt chẽ.

Cùng quan điểm với ông Nghĩa, ông  Ánh cho rằng, nếu không đảm bảo lãi suất thực dương hoặc để thực âm quá cao thì người dân sẽ không gửi tiền vào ngân hàng nữa, họ sẽ xoay sang làm việc khác.

Lúc đó, sẽ xảy ra hai câu chuyện: đầu tiên là không chống được lạm phát do tiền nằm ngoài hệ thống ngân hàng và Ngân hàng Nhà nước không thể điều hòa, kiểm soát được dòng tiền để thực thi các mục tiêu của mình. Thứ hai, tổ chức tín dụng sẽ không thực hiện được chức năng đưa dòng tiền từ tiết kiệm đến đầu tư, không thể cấp tín dụng ra nền kinh tế.

Thách thức hạ lãi suất


Cùng với câu chuyện “diễn đạt chưa chuẩn”  trong vấn đề lãi suất thực dương, Thống đốc cũng nêu quyết tâm: bằng cả gói chính sách, từ tháng 9/2011, Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa lãi suất tiền vay trở về  17% - 19%/năm.

Trong bối cảnh ròng rã hơn nửa năm thực hiện Nghị quyết 11, nền kinh tế phải chịu đựng chính sách tiền tệ khắc khổ, doanh nghiệp và người dân phải vay sản xuất lãi suất tới 22% - 23,5%/năm, thậm chí hơn; vay tiêu dùng từ 27% - 28%/năm, nên khi nghe tin người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước phát đi thông điệp “lãi vay giảm còn 17% - 19%”, đã khiến doanh nghiệp nô nức đón nhận và đếm từng ngày.

Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây, là liệu lãi suất có thể giảm xuống mức 17% - 19% như mong muốn của Thống đốc?

Theo ông Ánh, muốn giảm lãi suất thì phải giải quyết xong bài toán kiềm chế lạm phát. Ông Lê Xuân Nghĩa cũng nhận định: “Lạm phát tính theo năm vẫn còn cao, ở mức trên 20%”.

Trên thực tế, từ đầu năm đến nay, mặc dù lạm phát có tháng tăng, tháng giảm nhưng nhìn vào biểu đồ, diễn biến CPI vẫn theo xu hướng rất phức tạp. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, so sánh tháng sau với tháng trước, từ tháng 1 đến tháng 7, CPI tăng lần lượt: 1,74% - 2,09% - 2,17% - 3,32% - 2,21% - 1,09% - 1,17%. Còn so tháng 7 với tháng 12/2010 thì CPI tăng 14,61%; so với cùng kỳ năm trước tăng 22,16%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân bảy tháng năm nay so với bình quân cùng kỳ năm 2010 tăng 16,89%.

Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Nghị quyết 11 là kiềm chế lạm phát và hai công cụ để thực hiện mục tiêu này là thắt chặt tiền tệ và thu hẹp quy mô tài khóa. Theo phân tích của ông Ánh, việc thắt chặt tiền tệ từ đầu năm đến nay nếu nhìn từ tốc độ tăng huy động vốn và cho vay thì đang có vấn đề. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng huy động vốn chưa đến 4% nhưng tốc độ tăng tín dụng lên tới 7,5%.

Như vậy, xét theo số tương đối thì dòng tiền ra đang lớn hơn dòng tiền vào. Điều này rất đáng lưu ý vì để chống lạm phát thì phải đẩy lãi suất cao để hạn chế cung tín dụng và hút tiền về nhưng xem ra, mục tiêu này không đạt.

Trong khi đó, để thu hẹp quy mô kênh tài khóa, các bộ ngành, doanh nghiệp nhà nước đã cắt giảm, giãn đầu tư, không ứng trước vốn ngân sách năm sau vào năm nay ước 80 nghìn tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này được nhiều chuyên gia cho là “không thấm vào đâu” so với mục tiêu kiềm chế lạm phát.

Thứ  hai, một mâu thuẫn khác mà nếu nhìn qua rất khó  thấy, đó là việc Ngân hàng Nhà nước “phấn đấu” tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt mục tiêu dưới 20% với việc kiềm chế lạm phát.

Tính đến hết tháng 7/2011, tăng trưởng tín dụng toàn ngành đạt 7,5%, dư địa còn ít nhất trên 12%. Vì thế, từ nay đến hết năm, để mức tăng trưởng tín dụng đạt chỉ tiêu dưới 20%, Ngân hàng Nhà nước tiến hành bằng nhiều cách khác nhau như “tăng dự trữ bắt buộc”, “phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà nước” với lãi suất phù hợp cho tổ chức tín dụng mà Ngân hàng Nhà nước mua vốn; sau đó dùng nguồn vốn này tái cấp vốn cho các ngân hàng thiếu vốn nhưng thừa dư địa tăng tín dụng. Biện pháp trung hòa này nhằm đảm bảo vốn cho nền kinh tế theo mục tiêu đặt ra; đồng thời góp phần kéo lãi suất tiền vay xuống, bởi lẽ, cung tín dụng càng nhỏ, cầu tín dụng càng lớn thì lãi suất vay càng cao.

Vấn  đề ở đây là: với mức tăng tín dụng 7,5% mà lạm phát vẫn tiếp tục phi mã, vậy nếu mức tăng này tới 20% thì tác động tới lạm phát ở  mức nào? Khi lạm phát vẫn cao thì Ngân hàng Nhà nước có thể hạ được lãi suất không?

Hơn nữa, những đơn vị trong diện phải tăng tín dụng cho đủ chỉ tiêu chính là 5 ngân hàng thương mại nhà nước, vốn chiếm tới 55% thị phần. Hiện tại, mức tăng của 5 đơn vị này rất èo uột, có đơn vị  tăng trưởng âm. Vậy Ngân hàng Nhà nước sẽ mua bao nhiêu vốn ở các tổ chức tín dụng dư thừa vốn để “tái cấp vốn” cho 5 ông lớn này? Lãi suất là bao nhiêu để bên bán không cảm thấy hơn thiệt và so bì với lạm phát?


                                                                                                               (Theo VnEconomy)