Blogger Themes

Chứng khoán cho mọi người

Phần 1: Sơ lược về chứng khoán

Dữ liệu Chứng khoán

Báo cáo Tài chính / Thực hiện quyền

Liên hệ

Facebook / Google+
Showing posts with label Nợ nước ngoài. Show all posts
Showing posts with label Nợ nước ngoài. Show all posts

Tuesday, August 16, 2011

Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước?

Với khối nợ nước ngoài cứ tăng dần, vấn đề cân đối nợ thế nào cho đủ, có lẽ, còn phải nhìn nhận ở góc độ ứng xử với nợ.

“Tổng dư nợ nước ngoài quốc gia tính đến 31/12/2010 là khoảng 42,2% GDP. Mặc dù vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, nhưng trong những năm gần đây nợ nước ngoài quốc gia có xu hướng tăng khá nhanh”, Phó cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính) nói với VnEconomy.

Dù lý do được vị này cho biết là bởi vay thương mại nước ngoài của doanh nghiệp theo phương thức tự vay tự trả có xu hướng tăng nhanh, tuy thế, những quan ngại vẫn hướng vào con số 32,5 tỷ USD, so ra thì đã tăng thêm cỡ khoảng 4,6 tỷ USD so với cuối năm 2009.

Thực tế là với nợ nước ngoài, hay rộng hơn là nợ công quốc gia, quy định trần nợ so với GDP chỉ là một trong những tiêu chí đánh giá về an toàn nợ của Việt Nam. Bộ Tài chính, cơ quan chịu trách nhiệm chính về vấn đề này, còn xây dựng hàng loạt các chỉ tiêu đánh giá về an toàn nợ như dư nợ nợ nước ngoài quốc gia/GDP, nợ thương mại nước ngoài của Chính phủ/GDP, nghĩa vụ nợ Chính phủ/tổng thu ngân sách Nhà nước; trả nợ nước ngoài của quốc gia so với xuất khẩu hàng hóa dịch vụ…

Có vẻ việc giám sát và quản lý nợ rất chặt chẽ trên nhiều tiêu chí tổng hợp. Nhưng ngược lại, với góc nhìn nào đó, nợ vẫn nằm trong ngưỡng an toàn, nhưng ở một vài chỉ tiêu cụ thể, nhìn tốc độ cứ tăng từng ngày không khỏi dẫn đến sự hoài nghi, khi an toàn nợ có thể bị đe dọa.

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong một lần đăng đàn tại hội nghị về các vấn đề kinh tế vĩ mô cũng từng băn khăn rằng, nói nợ nước ngoài 20% GDP cũng an toàn, đến 40% cũng an toàn, nên vấn đề thế nào là an toàn rất cần được xác định rõ.

Với tiêu chí nợ nước ngoài so với GDP, trong giai đoạn 3 năm gần đây, từ cuối năm 2007-2010, chỉ tiêu này đã tăng thêm gần 10 điểm phần trăm và tiến rất gần với trần nợ quy định của Thủ tướng là 50% GDP.

Nhưng quan trọng hơn là con số này sẽ tiếp tục tăng nữa chứ chưa dừng lại ở đó. Một bản tin phát đi từ Bộ Tài chính cho biết, dự kiến năm 2011 nợ nước ngoài so với GDP sẽ khoảng 44,5%.

Theo Thông tư số 56/2011/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 1/8 vừa qua, việc xác định hạn mức nợ nước ngoài từng năm đã có công thức cụ thể, theo đó có một chi tiết quan trọng là khi tăng trưởng GDP năm liền trước vượt qua được mức lãi suất vay bình quân gia quyền của các khoản vay trung dài hạn nước ngoài, thì chỉ tiêu nợ nước ngoài so với GDP năm sau sẽ tăng tương ứng.

Với tốc độ tăng trưởng GDP vẫn ở mức khá cao, trong khi tổng giá trị vay ODA hiện vào khoảng 75%, ngoài ra còn có vay ưu đãi khác (theo một số nguồn tin, lãi suất bình quân các khoản nợ nước ngoài hiện vào khoảng 2,1-2,6%) thì dư địa để tăng nợ còn dài. Và dù về pháp luật, việc tăng nợ so với GDP được “bảo vệ”, còn một quan điểm khác là vay nước ngoài “rẻ” hơn trong nước.

Theo Phó cục trưởng Hoàng Hải, việc tăng dần tỷ trọng huy động vốn trong nước là một trong những định hướng ưu tiên hàng đầu trong chiến lược nợ của Việt Nam. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh: “Không phải là tăng tỷ trọng huy động vốn trong nước bằng mọi giá, nhất là trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn nhận được nguốn vốn ODA của các nhà tài trợ thì cần tranh thủ tối đa do tính chất ưu đãi của nguồn vốn này”.

Củng cố thêm cho lý do phải tăng nợ nước ngoài, Bộ Tài chính khi trả lời kiến nghị của cử tri vào tháng 7 năm nay cũng dẫn hàng loạt dự án lớn như đường xuyên Á từ Tp.HCM đến Mộc Bài, hầm đường bộ đèo Hải Vân, cảng biển nước sâu Cái Lân, nhà ga quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất, hay các cầu Mỹ Thuận, Thanh Trì, Bãi Cháy… để cho rằng nguồn vốn này đã hỗ trợ tăng trưởng thế nào. Nhiều lần, lãnh đạo Bộ Tài chính cũng phát biểu rằng, không ai chờ có đủ tiền mới đầu tư.

Nhưng với việc Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá “cắc bụp” mà hồi đầu năm nay đột ngột dâng lên 9,3%, có lẽ những khoản vay với lãi suất thấp bằng USD cũng cần được xem lại.

Xu hướng mất giá của VND, đáng quan ngại là không chỉ xảy ra trong năm nay mà đã có “tiền sử” nhiều năm, và vấn đề dường như ngày càng nghiêm trọng. Năm 2007, tỷ giá cuối kỳ tại bản tin nợ nước ngoài số 7 của Bộ Tài chính cho thấy, VND đã mất giá 2,16% so với USD, trong so sánh với năm trước; 2008 là mất giá 4,1%; đến năm 2010 thì lên mức 10,26%.

Nếu so tốc độ lạm phát (năm 2010 là 11,75%; năm 2009 là 6,52%) với tổng giá trị của lãi suất bình quân các khoản vay nước ngoài và biên độ thay đổi tỷ giá như nêu trên, thực tế là vay nước ngoài chưa chắc có lợi hơn trong nước.

Ở một góc nhìn khác, với khối nợ lên tới hơn 40% GDP thì chính sách tỷ giá bị kẹp cứng và mất đi ít nhiều khả năng linh hoạt. Những quyết định điều chỉnh tỷ giá sẽ là “đòn cân não” với nhà điều hành, khi mà dự trữ ngoại hối bị “rút ruột” nặng nề sau mỗi lần can thiệp ngoại hối.

                                                                                                                   (Theo VnEconomy)

Monday, August 15, 2011

Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

Chậm hơn thường lệ, bản tin về nợ nước ngoài đến cuối năm 2010 của Việt Nam, theo quy định được công bố với độ trễ nửa năm, mãi đến tháng 8/2011 mới được công bố chính thức.

Năm 2010, Việt Nam nợ nước ngoài thêm gần 4,6 tỷ USD
Điểm đáng chú ý trong bản tin số 7 vừa công bố là những cập nhật về mặt con số đều cho thấy gánh nặng nợ nần của Việt Nam đang tăng lên rất nhanh. Cho nên, nguyên tắc quản lý nợ công theo quy định của Luật Quản lý nợ công 2009 về bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và cân đối vĩ mô nền kinh tế, có lẽ là điều đáng bàn nhất lúc này.

Vượt 32,5 tỷ USD

Theo bản tin số 7, tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam (chỉ bao gồm nợ Chính phủ trung ương, địa phương và nợ do Chính phủ bảo lãnh) tính đến cuối năm 2010 đã vượt 32,5 tỷ USD, từ con số gần 27,93 tỷ USD trong năm trước đó.

Điều đó cũng có nghĩa, trong vòng 1 năm, khối nợ nước ngoài của Việt Nam đã gia tăng thêm gần 4,6 tỷ USD.

Trong khi đó, nếu tính cả khoản trả nợ gốc trong năm gần 1,06 tỷ USD, ước tính trong năm 2010, Việt Nam đã thông qua các hiệp định, hợp đồng vay nợ tổng cộng xấp xỉ 5,6 tỷ USD, tương đương khoảng 5,3% GDP cùng năm (theo ước tính của Tổng cục Thống kê vào khoảng 104,6 tỷ USD).
 
Với ý nghĩa là khoản vay để bù đắp bội chi ngân sách, theo công bố của Bộ Tài chính ngày 1/4 năm nay, là vào khoảng 5,6% GDP, thì vay nước ngoài năm 2010 của Việt Nam có vẻ tiếp tục vượt trội so với vay trong nước.
 
Con số dư nợ tăng trong mấy năm gần đây “nhảy nhót” không theo tốc độ tịnh tiến đều (năm 2007 tăng thêm khoảng 3,6 tỷ USD; 2008 khoảng 2,6 tỷ USD; 2009 trên 6,1 tỷ USD). Có điểm trùng hợp là ở những giai đoạn thị trường ngoại hối xuất hiện căng thẳng, hiệp định vay vốn nước ngoài thường được thông qua. Năm 2010, dự trữ ngoại hối cũng ghi nhận sự sụt giảm lớn, theo một số ước tính có thể lên đến 4 tỷ USD, còn năm 2009 trước đó thì ghi nhận mức thâm hụt tới 8,8 tỷ USD.
 
Ngoài ra, khía cạnh đánh đổi giữa tăng trưởng đạt thấp trong năm ngoái (6,78%) với những rủi ro tăng lên cùng khối nợ nước ngoài nở rộng nhanh cũng là điểm cần xem xét.
 
Chi phí vay ngày càng “đắt”
 
Cũng theo bản tin số 7, phần lớn nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thấp từ 0% đến dưới 3%. Cụ thể là trong tổng số gần 27,86 tỷ USD dư nợ thì có tới gần 21,85 tỷ USD ở mức lãi suất này, tăng khoảng 11,1% so với năm 2009. Dư nợ các khoản vay có lãi suất thả nổi theo LIBOR 6 tháng và Euro LIBOR 6 tháng chỉ tăng rất ít trong năm 2010, tổng cộng là trên 1,96 tỷ USD.
 
Tuy nhiên, tốc độ tăng của các khoản vay lãi suất cao mới là vượt trội. Có trên 2,15 tỷ USD dư nợ có lãi suất từ 3% đến dưới 6%, tăng tới 43% so với năm trước; lãi suất từ 6-10% có tổng dư nợ trên 1,89 tỷ USD, gấp hơn hai lần năm 2009.
 
Điều này cũng làm thay đổi rất nhiều nghĩa vụ nợ hàng năm về nợ nước ngoài của Chính phủ, theo sau mỗi bản tin về nợ nước ngoài được công bố. Với cập nhật mới nhất, từ nay đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải trả nợ nước ngoài cả gốc và lãi mỗi năm xấp xỉ 1,5 tỷ USD.
 
Mức đỉnh mới về trả nợ sẽ rơi vào năm 2020, với nợ phải trả lên tới gần 2,4 tỷ USD, trong khi chỉ một năm trước, Bộ Tài chính mới đưa mức dự kiến cho năm này khoảng 1,15 tỷ USD.
 
Riêng trong năm 2010, đã có khoảng 1,67 tỷ USD ra khỏi Việt Nam qua các khoản trả nợ gốc, lãi và phí, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm trước đó. So sánh dữ liệu về nghĩa vụ nợ năm 2010 với tổng thu ngân sách cùng năm của Bộ Tài chính, tỷ lệ này là khoảng 5,5%.
 
Liên quan đến dòng chảy này, năm 2010 cũng ghi nhận thêm khoản nợ mới từ phát hành trái phiếu Chính phủ quốc tế với lợi suất trên 7% mà thời hạn kéo dài trong 10 năm, rơi đúng vào đỉnh năm 2020 như nói ở trên.
 
Cũng sau khoản trái phiếu 1 tỷ USD được phát hành thành công, chủ nợ của Việt Nam cũng có thêm nhiều đối tượng là cá nhân nắm giữ trái phiếu. Tuy nhiên, cơ cấu đồng tiền vẫn khá tập trung, chủ yếu là đồng Yên Nhật, SDR (quyền rút vốn đặc biệt, đơn vị tiền tệ quy ước của của một số nước thành viên Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF), USD và Euro.
 
Cụ thể, đồng Yên chiếm tỷ trọng lớn nhất 38,8%; tiếp đến là SDR gần 27,1%; và USD, Euro lần lượt là 22,2% và 9,2%. Điều này cho thấy tỷ giá những khi thay đổi có thể thổi phồng khối nợ rất nhanh, và tỷ trọng nghĩa vụ nợ so với thu ngân sách cũng có thể thay đổi theo.
 
Có đi kèm rủi ro?
 
Theo bản tin số 7, đa số các chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài xấu đi so với năm 2009. Tổng dư nợ nước ngoài so với GDP đã ở mức 42,2%, nếu so với tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thuộc diện vừa phải.
 
Tuy nhiên, tỷ lệ dư nợ nước ngoài so với GDP đang tăng rất nhanh cũng hàm ý rằng những giới hạn an toàn đang bị đe dọa. Chỉ trong vòng 3 năm gần đây, từ 2008 đến cuối 2010, chỉ tiêu này của Việt Nam đã “nở” thêm khoảng 10 điểm phần trăm.
 
Nhưng đáng chú ý nhất là tỷ lệ giữa dự trữ ngoại hối so với tổng dư nợ ngắn hạn đang xuống thấp. Nếu như năm 2007, chỉ tiêu này đang là gấp gần 102 lần, cuối năm 2010 ghi nhận chỉ còn chưa đầy 2 lần.
 
Có hai vấn đề đặt ra với sự thay đổi này, một là dự trữ ngoại hối đang mỏng hơn, và hai là nợ ngắn hạn đang tăng lên nhanh chóng.
 
Theo nhiều nguồn số liệu thì năm 2009, thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam ở mức 8,8 tỷ USD, năm 2010 vào khoảng 4 tỷ USD (có nguồn tin là 2,6 tỷ USD). Diễn biến này đã bào mòn dự trữ ngoại hối.
 
Trong khi đó, nhiều chuyên gia kinh tế đã từng cảnh báo rằng nợ nước ngoài của Việt Nam có lãi suất ngày càng cao và kỳ hạn vay ngày càng ngắn. Quan điểm này một lần nữa lại được khẳng định tại bản tin số 7, khi nghĩa vụ nợ dự kiến của Việt Nam thay đổi liên tục trong mấy năm gần đây mà chủ yếu là trong tương lai gần.
 
Cùng lúc với dư nợ nước ngoài tăng nhanh và dự trữ ngoại hối vơi đi, tỷ giá tiếp nối vào rủi ro nợ của Việt Nam. Theo dữ liệu từ bản tin số 7, tỷ giá cuối kỳ của VND so USD đã giảm khoảng 10,26% trong so sánh năm 2010 với 2009; tương tự, so với Euro giảm 11,14%; so với SDR giảm khoảng 5,53%; và so với đồng Yên tăng 6,43%.
 
Trong bối cảnh lạm phát liên tục tăng cao, dự địa chính sách tiền tệ để ổn định ngoại hối sẽ khó khăn hơn khi phải đánh đổi giữa nghĩa vụ nợ tăng lên, hay bào mỏng dự trữ để can thiệp. Bởi, cùng với trách nhiệm trả nợ thì Chính phủ còn phải cân nhắc đến khả năng tăng thu ngân sách, khi mà tỷ trọng thu so với GDP đã cao và tình hình kinh tế trong ngắn hạn chưa cho thấy triển vọng phục hồi mạnh mẽ.

                                                                                                                    (Theo VnEconomy)