Blogger Themes

Chứng khoán cho mọi người

Phần 1: Sơ lược về chứng khoán

Dữ liệu Chứng khoán

Báo cáo Tài chính / Thực hiện quyền

Liên hệ

Facebook / Google+

Tuesday, August 30, 2011

Sửa tiếp Thông tư 13: Khơi thông vốn, hỗ trợ giảm lãi suất

Ngân hàng Nhà nước chính thức hủy bỏ quy định quan trọng trong Thông tư số 13/2010/TT-NHNN, khơi thông nguồn vốn và tạo thêm điều kiện để các tổ chức tín dụng có thể giảm lãi suất.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

Khơi thông nguồn vốn, hạ chi phí vốn, giúp lãi suất cho vay
Ngày 30/8/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ký ban hành Thông tư số 22/2011/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, đã được sửa đổi bởi Thông tư số 19/2010/TT-NHNN.

Với Thông tư số 22, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức cụ thể hóa định hướng đưa ra trước đó, chính thức hủy bỏ tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động quy định tại Thông tư 13, được sửa đổi, bổ sung sau đó bởi Thông tư 19.

Bên cạnh đó, Thông tư số 22 cũng điều chỉnh hệ số rủi ro đối với một số tài sản có bằng ngoại tệ khi tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.

Thông tư số 22/2011/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/9/2011.

Như vậy, một lần nữa Thông tư số 13/2010/TT-NHNN tiếp tục được sửa đổi. Đây là thông tư thu hút sự quan tâm lớn nhất của dư luận, cũng như các thành viên thị trường trong năm 2010 bởi những quy định gây nhiều tranh luận và phản ứng khác nhau.

Trước thời điểm Thông tư số 13 có hiệu lực (1/10/2010), 14 ngân hàng thương mại qua đầu mối là Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã có kiến nghị tập trung vào những quy định được cho là không hợp lý và gây khó khăn trong hoạt động của họ.

Kiến nghị trên đã được Thủ tướng Chính phủ ghi nhận và chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước xem xét sửa đổi. Sát thời điểm có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước đã có Thông tư số 19 với một số điểm sửa đổi cơ bản.

Và nay, với Thông tư số 22 vừa ban hành, một nội dung quan trọng của Thông tư số 13 là tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động đã được hủy bỏ.

Theo định hướng Ngân hàng Nhà nước đưa ra cuối tuần qua, việc điều chỉnh này nhằm tạo sự luân chuyển và điều hòa vốn giữa thị trường 1 và thị trường 2, giữa tổ chức tín dụng thừa và tổ chức tín dụng thiếu vốn, giúp các tổ chức tín dụng thiếu vốn có điều kiện tăng trưởng tín dụng trong giới hạn 20% và hạ được lãi suất cho vay.

Như vậy, quy định các tổ chức tín dụng chỉ được cấp tín dụng 80%/85% từ vốn huy động và những hạn chế liên quan đến việc xác định mẫu số “vốn huy động” đã được tháo gỡ.

Trước đó, việc không đưa tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội, hay ngay cả phần vốn tự có… vào “vốn huy động” để tính tỷ lệ trên, hay ngay cả tiền vay tổ chức tín dụng nước ngoài về cho vay lại cũng bị giới hạn 80%... được các thành viên thị trường cho là bất hợp lý; thậm chí là lo ngại những nguồn vốn đó sẽ bị “nằm chết”.

Với Thông tư 19 sửa đổi, bổ sung sau đó, tỷ lệ 80%/85% nói trên được xác định là từ vốn huy động, tức các nguồn khác đặc biệt là vốn tự có của tổ chức tín dụng không bị lệ thuộc vào giới hạn này. Bên cạnh đó, Thông tư 19 cũng đã xem xét lại việc tính thêm các nguồn vốn nói trên nhưng áp các hạn chế về kỳ hạn, hoặc chỉ cho tính một tỷ lệ thấp (như chỉ cho dùng 25% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế để cho vay)…

Giới hạn về tỷ lệ cấp tín dụng nói trên thời gian qua đã có nhiều ý kiến phản biện, tập trung ở việc hạn chế nguồn vốn, hay cách nói vốn bị “nằm chết” trong kiến nghị của 14 ngân hàng nói trên, hoặc gạt bỏ giá trị của những dòng vốn khi chảy qua kênh ngân hàng (như tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn khi tập trung tại ngân hàng thì có thể khai thác ở giá trị tín dụng). Và điều này ảnh hưởng đến chi phí của các tổ chức tín dụng, khiến lãi suất cho vay bị đội lên.

Lần sửa đổi này, với việc hủy bỏ quy định nói trên, một rào cản trong sử dụng vốn để cho vay được gỡ bỏ, đồng nghĩa với các tổ chức tín dụng có thêm điều kiện để tận dụng các nguồn vốn để đẩy mạnh cho vay, cũng như giảm thêm chi phí để có thêm cơ sở thực tế hưởng ứng chủ trương hạ lãi suất mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra.

Đây cũng là một phương án mà Ngân hàng Nhà nước triển khai theo thông điệp sẽ điều chuyển vốn từ chỗ thừa sang chỗ thiếu, để các nhà băng có thêm điều kiện cho vay và giảm lãi suất như đề cập ở trên. Đây cũng là một giải pháp hỗ trợ giảm lãi suất bằng sự cân đối lại các nguồn vốn trong hệ thống, thay vì tăng cung tiền để giảm lãi suất có thể dẫn tới áp lực tăng lạm phát.

Và có thể hiểu đó cũng là lý do chính để Ngân hàng Nhà nước ấn định ngày có hiệu lực của Thông tư số 22 là ngay từ 1/9 này - thời điểm bắt đầu “tính” thực tế khả năng giảm lãi suất cho vay theo thông điệp rút về 17% - 19%/năm mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình nhiều lần đưa ra.

Điều đó cho thấy nhà điều hành đang gấp rút triển khai các điều chỉnh chính sách, dù ở đây có thể có một vướng mắc về kỹ thuật ban hành văn bản, theo quy định thời điểm hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành…

                                                                                                                             (Theo VnEconomy)

Monday, August 29, 2011

Giá vàng, USD đồng loạt sụt mạnh

Sau phiên giảm 2,2% đêm qua của giá vàng quốc tế, giá vàng trong nước sáng nay sụt gần 1,4 triệu đồng/lượng, kéo theo sự đi xuống của giao dịch. Giá USD thị trường tự do cũng hạ 100 đồng mỗi “đô” so với sáng qua.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

Giá vàng đã giảm mạnh so với hôm qua, ngoại tệ cũng giảm
Lúc 10h45 sáng nay, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 45,95 triệu đồng/lượng (mua vào) và 46,27 triệu đồng/lượng (bán ra). So với đầu giờ sáng qua, giá vàng tại doanh nghiệp này đã giảm 1,25 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 1,35 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra.

Công ty Phú Quý lúc 10h45 báo giá vàng SJC ở mức 46 triệu đồng/lượng và 46,45 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường Tp.HCM, giá vàng SBJ được Công ty Sacombank-SBJ lúc 10h thông báo ở mức 46,01 triệu đồng/lượng và 46,34 triệu đồng/lượng.

Giá vàng diễn biến theo chiều hướng liên tục giảm từ đầu giờ, với tổng mức giảm từ lúc mở cửa đến 10h45 lên tới 500.000 đồng/lượng. Đến 10h20, Sacombank-SBJ đã có 7 lần thay đổi bảng giá niêm yết, với giá lần sau luôn thấp hơn lần trước. Giá vàng giảm nhanh và liên tục khiến các doanh nghiệp thận trọng, áp dụng mức chênh lệch rộng giữa giá mua vào và bán ra.

So với cuối giờ chiều qua, giá vàng hiện đã giảm khoảng 650.000 đồng/lượng. Trong ngày hôm qua, giá vàng cũng điều chỉnh giảm liên tục và đã hạ về dưới mức 47 triệu đồng/lượng vào cuối ngày ở một số đơn vị.

So với giá vàng quốc tế quy đổi (tính theo tỷ giá USD ngân hàng), giá vàng trong nước hiện đang cao hơn 1,2-1,4 triệu đồng/lượng tùy thương hiệu. Tuy vậy, mức chênh lệch này đã được thu hẹp so với mức trên 2 triệu đồng/lượng cách đây ít ngày. Theo giới kinh doanh vàng, do lực mua vàng miếng từ đầu tuần đã không còn mạnh nên khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới cũng co hẹp theo.

Sau khi mạnh tay mua vàng trong tuần trước, người dân sang tuần này bắt đầu thận trọng hơn. Giá vàng liên tục giảm từ ngày hôm qua càng khiến người dân có lý do để dè dặt khi ra quyết định mua bán vàng.

Tỷ giá USD/VND thị trường tự do cũng đang giảm nhanh. Giá USD lúc 10h30 sáng nay tại Hà Nội được một số điểm giao dịch thông báo ở mức 21.020 đồng (mua vào) và 21.080 đồng (bán ra), giảm tương ứng 80 đồng và 100 đồng so với cùng thời điểm hôm qua.

Ngân hàng Vietcombank duy trì báo giá USD ở mức 20.830 đồng và 20.834 đồng. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữ ở 20.628 đồng.

Trong phiên giao dịch sáng nay tại châu Á, giá vàng phục hồi nhẹ sau phiên sụt mạnh đêm qua tại New York. Lúc 10h40 giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay đứng ở 1.796,3 USD/oz, tăng gần 7 USD/oz so với giá đóng cửa ở Mỹ, quy đổi tương đương khoảng 45,1 triệu đồng/lượng.

Đêm qua, giá vàng giao ngay hạ 40,6 USD/oz khi chốt phiên, còn 1.789,5 USD/oz.

Vàng giảm giá khi thị trường chứng khoán Phố Wall tăng điểm mạnh nhờ những thông tin tích cực phát đi từ Mỹ và châu Âu. Thống kê cho thấy, chi tiêu dùng của người dân Mỹ trong tháng 7 tăng mạnh hơn dự báo. Còn tại Hy Lạp, hai ngân hàng lớn Alpha và EFG Eurobank của Hy Lạp ký thỏa thuận sáp nhập với sự giúp đỡ từ Qatar, làm gia tăng sự lạc quan của giới đầu tư.

Hoạt động mua vàng vật chất ở vùng giá thấp đang hỗ trợ cho giá vàng. Giới chế tác nữ trang vàng ở Ấn Độ được dự báo sẽ mua mạnh kim loại này mỗi khi giá giảm để phục vụ cho mùa cưới đang đến gần. Nhu cầu vàng của Trung Quốc cũng được nhận định là sẽ tăng trong mùa Trung thu.

“Tôi cho rằng thị trường vàng đang nỗ lực ổn định giá cả và đang trong trạng thái điều chỉnh. Ngưỡng 1.780 USD/oz là ngưỡng hỗ trợ, còn ngưỡng 1.850 USD/oz là mức kháng cự. Hoạt động săn hàng giá rẻ đang diễn ra, ít nhiều nâng đỡ giá vàng”, ông Ronald Leung, Giám đốc công ty Lee Cheong Gold Dealers ở Hồng Kông, phát biểu trên Reuters.

Giá dầu thô ngọt nhẹ giao tháng 10 tại New York lúc 10h50 giờ Việt Nam tăng 0,25 USD/thùng so với đóng cửa hôm qua, lên 87,52 USD/thùng. Tỷ giá Euro/USD tại Tokyo cùng thời điểm là 1,45 USD/Euro.

                                                                                                                         (Theo VnEconomy)

Tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước mong muốn điều gì?

Pierpont Bui - Thông báo tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngoại tệ lần thứ 3 kể từ đầu năm

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

NHNN tiếp tục tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ thêm 1%
Ngày 26/8/2011, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số 1925/QĐ-NHNN về điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ đối với các tổ chức tín dụng(TCTD).

Theo Quyết định này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng đối với các NHTM Nhà nước (không bao gồm Agribank), NHTM cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 8% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Riêng Agribank, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ được áp dụng đối với các NHTM Nhà nước (không bao gồm Agribank), NHTM cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là 6% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc. Riêng Agribank, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 9/2011 và thay thế Quyết định số 1209/QĐ-NHNN ngày 01/6/2011 của Thống đốc NHNN.

Như vậy, ở tất cả khoản mục với các TCTD, tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngoại tệ đã tăng thêm 1%. Đáng chú ý đây là lần tăng thứ 3 liên tiếp từ đầu năm, sau hai lần tăng vào các tháng 5 và tháng 8. Và lần tăng này diễn ra ngay sau cuộc họp bàn về vấn đề giảm lãi suất của NHNN với 12 Ngân hàng Thương mại lớn trong ngày 26/08/2011

Ngân hàng Nhà nước mong muốn điều gì sau điều chỉnh trên?

Trước hết cần khẳng định, ngay khi mới lên nhậm chức, Tân Thống đốc Nguyễn Văn Bình đã nêu rõ mục tiêu cần làm sớm là hạ lãi suất cho vay đầu ra về mức 17 – 19% / năm. Nhằm mục đích khơi thông luồng vốn, giảm thiểu rủi ro và giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế được khởi sắc trở lại do lãi suất thấp hơn.

Tuy nhiên, một trở ngại lớn ngay khi có sự điều chỉnh giảm lãi suất xuống “nhanh” về mức 17 – 19%/năm là nó dẫn đến “cảm giác” đồng Việt Nam (VND) bị mất giá, hay lãi suất có thể “thực âm” và dẫn đến sự dịch chuyển dòng vốn từ VND sang các tài sản khác, như ngoại tệ (USD, EUR, …), vàng, chứng khoán, bất động sản …

Trong các tài sản kể trên, ngoại tệ là kênh dễ được chuyển đổi ngay, mức độ dao động cũng không lớn. Việc này sẽ tác động tới tỷ giá hối đoái, vốn được giữ ổn định từ đầu năm và gần đây có chút “nhúc nhích” do sự biến động mạnh trên thị trường vàng. Điều này dẫn tới tới cầu có tính chất “đầu cơ dự trữ” về ngoại tệ gia tăng, nhất là trong bối cảnh cuối năm hay căng thẳng thì sẽ góp thêm làm tăng tỷ giá nhất định (nếu không có sự can thiệp của NHNN).

Như vậy việc tăng dự trữ bắt buộc ngoại tệ ngay lúc trước khi hạ lãi suất VND là làm tăng sự “hấp dẫn” cho VND thêm nữa và làm giảm mãi lực “đầu cơ” vào ngoại tệ do lãi suất ngoại tệ sẽ càng bị giảm bớt sau quyết định trên của NHNN.

Dù chưa đưa ra một số liệu chính thức về nhu cầu vay mượn ngoại tệ trong nền kinh tế từ đầu năm nhưng có thể khẳng định chắc chắn là nhu cầu vay mượn để kinh doanh bằng ngoại tệ đã tăng vọt so với VND, sở dĩ có điều này là do trong khi tỷ giá đã được ổn định từ đầu năm, nhưng chêch lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ rất lớn (20 – 24%/năm so với chưa tới 10%/năm), dẫn tới nhu cầu vay ngoại tệ tang vọt do chi phí “rẻ” hơn đáng kể.

Hệ lụy của việc trên là về lâu dài các tổ chức vay nói trên sẽ phải trả Ngân hàng cả gốc và lãi cũng chính bằng ngoại tệ, dẫn tới cầu ngoại tệ luôn lớn, đặc biệt vào các thời điểm cuối năm, gây áp lực căng thẳng lên tỷ giá, ảnh hưởng rộng đến nền kinh tế vĩ mô và vấn đề lạm phát. Do lâu nay Việt Nam luôn là nước nhập siêu, nên nếu tỷ giá tăng, thì giá cả đầu vào nhập khẩu sẽ còn tăng hơn nữa, qua đó gián tiếp tác động tới chi phí tiêu dùng, giá cả đầu vào cũng tăng theo, gây tiêu cực tới vấn đề lạm phát vốn đang ở mức cao của Việt Nam.

Như vậy, sẽ tạo ra một vòng “luẩn quẩn” càng xoáy vào nhu cầu vay, đầu cơ tích trữ ngoại tệ. Quyết định nói trên của NHNN sẽ giúp chống đầu cơ vào ngoại tệ, giảm áp lực tỷ giá, nâng cao dự trữ ngoại hối của NHNN, tạo khả năng can thiệp tốt khi có sự biến động trên thị trường ngoại hối. Mục đích nói trên sẽ càng trở nên hiện thực khi lãi suất VND giảm xuống còn 17 – 19%.

Như vậy, có thể thấy quyết định nói trên là một trong số tổng thể các biện pháp của NHNN nhằm làm giảm lãi suất VND về mức 17 – 19%. Tới đây tin rằng NHNN sẽ công bố một số các giải pháp khác nhằm bình ổn lại thị trường vàng, giúp cho giá vàng trong nước diễn biến phù hợp với giá vàng quốc tế, chống đầu cơ, làm giá, vốn tác động mạnh tới tâm lý về lạm phát của người dân trong suốt thời gian qua.

                                                                                                  (Pierpont Bui thực hiện và phân tích)

Ngân hàng Nhà nước siết chặt cung cầu ngoại tệ

Ngân hàng Nhà nước tiếp tục có biện pháp ép cả đầu vào lẫn đầu ra để có thể “co” tín dụng ngoại tệ trong thời gian tới.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

Tăng trưởng tín dụng ngoại tệ vẫn ở mức cao
Mở đầu tuần mới, thị trường đón nhận thông tin định hướng về loạt giải pháp chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm.

Bên cạnh việc xem xét chưa áp dụng quy định về tỷ lệ sử dụng vốn tại Thông tư số 13 và 19, thì sự can thiệp đối với tín dụng ngoại tệ là đáng chú ý; cũng như cụ thể hóa thông điệp “hãm phanh” đưa ra đầu tháng này.

Đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước tăng thêm 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ - lần tăng thứ ba kể từ đầu năm. Đây được xem là sự điều chỉnh có tác động cụ thể nhất tới tín dụng ngoại tệ trong thời gian tới.

Trong thông cáo phát đi ngày 29/8, nhà điều hành cũng nêu rõ lý do là “để hạn chế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ, tạo điều kiện ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối”. Điều này xuất phát từ thực tế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ liên tiếp tăng cao kể từ giữa năm 2010 trở lại đây.

Số liệu cập nhật cụ thể cho thấy đến 20/6 tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đã lên tới 22,21% so với cuối năm 2010; đến 20/7 tiếp tục tăng 1,96% so với tháng liền trước. Trong tháng 8, dù chưa công bố cụ thể nhưng Ngân hàng Nhà nước cho biết là tăng trưởng vẫn ở mức cao.

Trong khi đó, tăng trưởng huy động ngoại tệ của hệ thống ngân hàng đã sụt giảm mạnh trông thấy, sau khi cơ chế áp trần lãi suất tiền gửi USD được đưa ra và tiếp tục thu hẹp (xuống 2%/năm đối với dân cư, 1%/năm đối với tổ chức). Số liệu công bố của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tính đến 20/6, huy động ngoại tệ đã giảm tới 3,62% so với cuối tháng liền trước; tương tự, tính đến 20/7 giảm tới 3,29% và có thể tiếp tục thể hiện trong tháng 8.

Tín dụng ngoại tệ liên tiếp tăng cao, trong khi huy động liên tiếp giảm mạnh. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước cho biết thanh khoản ngoại tệ của hệ thống được đảm bảo, nhưng sự trái chiều đó nếu kéo dài có thể gây bất ổn trong khả năng cân đối vốn.

Bên cạnh đó, tín dụng ngoại tệ tăng trưởng quá mạnh sẽ dẫn tới những hệ lụy, nhất là gây áp lực đối với tỷ giá khi các khoản vay tập trung đáo hạn - như nhiều ý kiến chuyên gia đưa ra thời gian qua (dù cần bóc tách áp lực cụ thể của từng nhóm nhu cầu vay).

Lần này, Ngân hàng Nhà nước tăng thêm 1% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chi phí huy động ngoại tệ của các nhà băng theo đó sẽ tăng thêm. Như một phản ứng dây chuyền, chi phí đội thêm đó sẽ được đẩy sang người vay vốn. Lãi suất cho vay ngoại tệ theo đó sẽ tăng lên, thu hẹp dần chênh lệch với lãi vay bằng nội tệ và qua đó đánh động các nhu cầu vay vốn.

Tác động trên là đáng kể, bởi định hướng giảm lãi suất cho vay VND cũng đang được Ngân hàng Nhà nước thực hiện. Một bên tiến, một bên lùi, chênh lệch sẽ dần được thu hẹp. Và có thể đây chưa phải là lần cuối cùng Ngân hàng Nhà nước tăng dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ. Khi chênh lệch giữa lãi suất vay vốn hai đồng tiền bị thu hẹp đến ngưỡng mà người vay phải tính toán để cân nhắc với rủi ro tỷ giá, nhu cầu vay sẽ giảm. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đạt đích hạn chế đầu ra.

Mặt khác, với 1% tăng thêm, nguồn cho vay của các ngân hàng bị cắt bớt. Hiện không có con số tổng huy động ngoại tệ của toàn hệ thống ở thời điểm này được công bố cụ thể để đo lường chính xác lượng vốn bị “khóa” thêm này. Nhưng đó là “một lát cắt khi đói” đối với trạng thái huy động ngoại tệ của các ngân hàng, vốn liên tục giảm như đề cập ở trên.

Với cơ chế áp trần huy động USD rất thấp đã và đang áp dụng, cộng thêm việc liên tiếp tăng dự trữ bắt buộc, Ngân hàng Nhà nước đã và đang siết cả đầu vào của tín dụng ngoại tệ. Đầu vào khó hơn, tự thân các ngân hàng thương mại cũng sẽ phải kìm bớt đầu ra, nhất là trước áp lực bảo vệ thanh khoản trước tốc độ huy động và cho vay trái chiều. Theo đó, thời gian tới, chính các ngân hàng thương mại sẽ chọn lọc hơn trong cho vay ngoại tệ.

Tính chọn lọc đó cũng được Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phát đi trong thông cáo ngày 29/8: tiếp tục điều chỉnh cơ chế cho vay bằng ngoại tệ.

Bên cạnh Thông tư 13 và 19 vừa được áp dụng, thì Thông tư số 07 về cơ chế cho vay ngoại tệ vừa mới áp dụng chưa đầy 4 tháng cũng sẽ được điều chỉnh. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ sửa đổi cơ chế cho vay bằng ngoại tệ theo hướng quy định điều kiện chặt chẽ hơn đối với khách hàng không có nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ vay.

Với định hướng trên, đối tượng vay ngoại tệ sắp tới sẽ tiếp tục bị thu hẹp. Nhóm đối tượng không có nguồn thu ngoại tệ từ sản xuất kinh doanh, đầu mối chính tạo áp lực cầu ngoại tệ thương mại đối với tỷ giá khi trả nợ, sẽ bị siết lại. Trong khi đó, với thông tin vừa công bố, có thể ngoại trừ nhóm đối tượng vay có nguồn thu đối ứng, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu.

                                                                                                                        (Theo VnEconomy)

Sunday, August 28, 2011

Tổ chức đầu tư thận trọng với khả năng giảm lãi suất

Trước định hướng của Ngân hàng Nhà nước, một số tổ chức đầu tư nhìn nhận lãi suất sẽ không giảm nhiều, trong khi có rủi ro liên quan cần dè chừng.

> Nhập khẩu tăng đột biến trong tháng 8

Lãi suất giảm sẽ khiến dòng vốn chạy ra khỏi tiền đồng?
Cuộc họp được trông đợi giữa Ngân hàng Nhà nước với 12 ngân hàng lớn cuối tuần qua ít nhiều cũng đã có thêm thông tin cho thị trường.

Điểm được quan tâm là các ngân hàng lớn đã đồng thuận với Ngân hàng Nhà nước về định hướng giảm lãi suất trong thời gian tới. Nhưng theo thông tin về cuộc họp đó, đồng thuận ở đây là về chủ trương.

Giả sử, tại cuộc họp đó, ngay cả khi có một đồng thuận cụ thể về các điểm đến của lãi suất, thì “như nhiều lần trước trong 5 - 6 năm qua, những thỏa thuận như vậy thường không được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế” - theo đúc kết của một tổ chức đầu tư.

Trước cuộc họp trên, Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt (VCSC) có một báo cáo phân tích chuyên đề về tiền tệ, trong đó có một kết luận rằng, “vẫn còn quá sớm để ăn mừng chiến thắng”, đặt trong xu hướng giảm lãi suất.

VCSC cho rằng những giải pháp mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đưa ra mới đây có thể giúp lãi suất giảm thêm 1% - 1,5%/năm, nhưng không nhiều như mức mà Ngân hàng Nhà nước mong đợi là 3% - 4%/năm.

“Hiện tại, lãi suất huy động tiền đồng có thể đàm phán vẫn ở mức 17% - 20%/năm và lãi suất cho vay phổ biến là 20% - 22%/năm giảm đáng kể so với mức đỉnh trong tháng 6 là 19% - 21% và 22% - 24%/năm. Tình hình đã cải thiện, nhưng vẫn còn quá sớm để ăn mừng chiến thắng”, báo cáo của VCSC viết.

Trong nhận định của mình, Công ty Cổ phần Chứng khoán Tp.HCM (HSC) cũng thận trọng khi nói rằng: “Mặc dù chúng tôi chờ đợi động thái giảm lãi suất cho vay, có lẽ từ phía các ngân hàng quốc doanh khoảng 0,5% - 1%, thì cũng cần lưu ý rằng Ngân hàng Nhà nước không còn nhiều chỗ để tự do thực hiện chính sách tiền tệ. Và cơ quan này cũng hiểu rõ điều đó”.

Còn theo nhận định của một tổ chức đầu tư lớn khác là Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long (TLS), trước mắt, lãi suất cho vay nhiều khả năng chưa thể giảm sâu, nhưng lại nổi lên sức ép về vấn đề ổn định tỷ giá giữa VND và USD.

Sức ép mà TLS đặt ra cũng được HSC nhấn mạnh trong phân tích của mình, đặt trong mối liên hệ với lãi suất: “Lãi suất chắc chắn sẽ giảm nhưng chỉ giảm nhẹ và cùng nhịp với tốc độ tăng CPI theo năm. Sau cùng, nếu lãi suất cho vay bị ép giảm quá nhanh thì sẽ có rủi ro làm đảo ngược dòng vốn đầu cơ hưởng chênh lệch giữa lãi suất tiền đồng và USD; khiến dòng vốn này chảy ra khỏi tiền đồng, gây áp lực lên tỷ giá. Và điều này đến lượt mình sẽ dẫn đến sự bất ổn về lâu dài đối với tình hình kinh tế vĩ mô”.

Trong khi đó, Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) lại lạc quan khi nhìn nhận về áp lực từ mối liên hệ đó.

“Tỷ giá thời gian gần đây có dấu hiệu tăng. Áp lực tăng không phải là một bất ngờ, chúng tôi cho rằng không có cơ sở cho rằng tỷ giá sẽ có những biến động mạnh trong tương lai gần. Lãi suất hạ có thể khiến áp lực tỷ giá trở lại sau thời kì người dân chuyển mạnh sang VND để gửi tiết kiệm, tuy nhiên mức giảm của lãi suất khó đột ngột. Bên cạnh đó, chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền vẫn còn quá lớn, nên dù có thu hẹp thì lợi thế của việc nắm giữ VND vẫn vượt trội đáng kể so với rủi ro. Biến động của tỷ giá ít khả năng vượt ngoài sự kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước”.

Còn trên thực tế, dĩ nhiên là xuất phát từ những tác động khác nhau, một số kênh thông tin chính thống đã bắt đầu đề cập đến tình trạng hai tỷ giá trong chính hệ thống ngân hàng, bên cạnh sự nóng lên của tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do.

Theo đó, cuối tuần qua đã có hiện tượng ngân hàng thương mại bán ra USD với giá cao hơn trần cho phép từ 200 - 300 VND. Và như vậy, bên cạnh tình trạng lãi suất huy động vượt trần thì “nạn” hai tỷ giá cũng đang nhăm nhe trở lại.

Oái ăm là diễn biến mới đó có ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước tự tin công bố rằng, với lượng dự trữ ngoại tệ hiện nay, nhà điều hành “dư sức để can thiệp bình ổn thị trường ngoại hối trong mọi tình huống”, cũng như “hoàn toàn có cơ sở kinh tế để đảm bảo ổn định tỷ giá trong những tháng cuối năm 2011”.

                                                                                                                       (Theo VnEconomy)

Được Ủy ban thông qua tăng vốn, cổ đông lại tranh nhau bán sàn PVA

Pierpont Bui - Ngay sau có thông báo của Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) về việc chấp thuận trở lại cho Công ty CP Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An (MCK: PVA) tiếp tục các thủ tục chào bán cổ phiếu ra công chúng vào chiều thứ năm, ngày 25/08/2011 thì trong phiên giao dịch ngày 26/08/2011, PVA đã bị bán sàn khá mạnh, kết thúc phiên giao dịch, dư bán giá sàn 60.900 cp và tổng lượng khớp trong ngày là 630.100 cp. Đáng chú ý, trong tổng khối lượng khớp thì giá sàn 13.5 và giá cạnh 13.6 chiếm tới 60%, các lệnh “đánh xuống” với khối lượng 10k, 20k chiếm đa số.

> Ứng xử với nợ: Vay nước ngoài hay vay trong nước? / Nợ nước ngoài: Một năm tăng gần 4,6 tỷ USD

PVA đã bị bán xuống rất mạnh trong phiên ngày 26/08/2011
Khó khăn trong huy động vốn
Suốt từ đầu năm tới nay, để thực hiện chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ đã thực hiện một loạt các biện pháp, trong đó có chính sách thắt chặt tiền tệ, điều này đã khiến cho nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng “thiếu vốn”, dẫn đến chi phí vay mượn tăng cao (lãi suất cao) nhưng vẫn rất khó huy động được vốn từ ngân hàng để đầu tư, sản xuất kinh doanh.

Một số đã quay sang huy động vốn từ Thị trường Chứng khoán, tuy nhiên cũng rất khó khăn, và đa phần là thất bại do nhà đầu tư hiện nay cũng … “không còn tiền” và giá cổ phiếu hiện xuống quá thấp, nhiều cổ phiếu trong số đó thậm chí còn thấp hơn cả mệnh giá 10.000 đ/CP, thường là giá phát hành hiện nay. Tuy nhiên, một số dù giá tiệm cận mệnh giá ở mức 1x nhưng vẫn… “cố gắng” phát hành và những đợt phát hành như vậy gần như sẽ thất bại, nếu có được thì cũng chỉ phát hành được một phần nhỏ và không thể hoàn thành như kế hoạch huy động vốn đã đề ra trong Nghị quyết và Bản cáo bạch Phát hành thêm.

Vay nợ quá nhiều để kinh doanh  
PVA có tên đầy đủ là Công ty CP Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An là thành viên của Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (MCK: PVX), tham gia niêm yết tại HNX vào tháng 12/2008 với nghành nghề cơ bản chính là Xây lắp, vốn điều lệ từ khi niêm yết đã tăng một lần từ 45 tỷ lên thành 100 tỷ đồng như hiện nay.

Do đặc điểm của nghành Xây lắp phải huy động vốn từ Ngân hàng nhiều, cũng như chính bản thân PVA với định hướng phát hướng phát triển nhanh chóng thành một Tổng Công ty với thêm nhiều nghành nghề có liên quan như bất động sản, vật liệu xây dựng, dịch vụ, … , dẫn đến nhu cầu vốn rất lớn, trong khi chưa tăng vốn được thì có nghĩa phải …vay.

Theo báo cáo kiểm toán 2010, PVA với vốn điều lệ 100 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu là 171 tỷ đồng nhưng Tổng tài sản tới… 1941 tỷ đồng, tức là gấp hơn 10 lần số vốn đang có. Chi tiết hơn, có thể thấy PVA đang vay ngắn hạn 213 tỷ đồng và vay dài hạn 554 tỷ đồng, dẫn đến số lãi vay phải trả Ngân hàng trong năm 2010 vào khoảng …40 tỷ đồng. Đây thực sự là con số khá lớn đối với một Công ty có số vốn chủ sở hữu chỉ có 171 tỷ, dù cho trong năm 2010, lãi suất vẫn còn “nhẹ” so với hiện nay.

Bước qua năm 2011, do tình hình chung khó khăn như phân tích ở trên, tình hình tài chính còn xấu đi hơn với PVA. Tại báo cáo tài chính hợp nhất quý 2/2011, có thể thấy vốn chủ sở hữu chỉ còn 145 tỷ đồng nhưng Tổng tài sản vẫn tăng nhẹ lên 2025 tỷ đồng, tức là hệ số đòn bẩy tài chính, hệ số cho biết tình hình nợ/vốn tự có còn cao hơn nữa, theo đó số vay mượn Ngân hàng còn tăng hơn nữa theo một xu hướng nhất định. Điều này báo hiệu tình hình tài chính của Doanh nghiệp đang “xấu” đi, và cần phải cải thiện.

Cách phổ biến nhất Doanh nghiệp niêm yết hay làm để cải thiện tình hình tài chính là huy động vốn trên Thị trường Chứng khoán qua hình thức phát hành thêm tăng vốn. Tuy nhiên với một hệ số đòn bẩy tài chính lớn như thế, thì vấn đề huy động vốn cho Doanh nghiệp cũng phải lớn mới cải thiện đáng kể và hạ thấp hệ số đòn bẩy nói trên được.

Pha loãng cổ phiếu quá lớn
Như đã phân tích ở trên, PVA đã chọn phương án huy động vốn “hoàng tráng” để tăng vốn từ 100 tỷ đồng lên thành 600 tỷ đồng, tức là tăng vốn tới 6 lần, số lượng vốn cần huy động ở đây là 500 tỷ đồng, một con số quá lớn trong bối cảnh thắt chặt tiền tệ như hiện nay.

Đáng chú ý hơn, 445 tỷ đồng trong số đó là huy động từ chính cổ đông hiện hữu, với tỉ lệ 1:4,45, giá 10.000 đồng/cp. Đây là tỉ lệ huy động vốn lớn nhất đối với cổ đông hiện hữu trên Thị trường Chứng khoán chính thức từ trước tới nay. 2 đợt lớn khác thành công từng ghi nhận là tỉ lệ 1:4 của IJC và TDC, tuy nhiên thành công được phần lớn là do sự hậu thuẫn bảo lãnh của Công ty mẹ - Becamex.

Thất bại?
Như đã nói ở phần vay nợ và khó khăn huy động vốn, do phải trả lãi Ngân hàng quá nhiều, và “thiếu vốn” dẫn tới 6 tháng đầu năm 2011, PVA chỉ lãi có 10 tỷ đồng, và cứ theo đà đó mà dự tính, thì cả năm PVA cũng chỉ lãi ở mức khoảng 20 – 25 tỷ đồng. Tức là EPS chỉ khoảng 2.000 – 2.500.

Với mức P/E phổ biến chung trên TTCK Việt Nam hiện nay 4,5 – 5 thì giá dự tính của PVA cũng chỉ xoay quanh mệnh giá là hợp lý. Và thực tế cũng cho thấy giá cổ phiếu PVA bình quân cuối ngày 25/08 trước khi UBCK chấp thuận trở lại là 14.500 đồng/cp (mức giá này đã được hỗ trợ trước đó bởi 5 phiên tăng điểm liên tiếp từ giá 11.900 đồng /cp).

Một vấn đề cuối cùng ở đây cần phải thấy là các nhà đầu tư giao dịch hàng ngày trên TTCK Việt Nam đa phần là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, thời gian mua bán không quá 3 tháng, hay phổ biến chỉ dưới 1 tháng. Nên hầu như họ không hề “quan tâm” tới các dự án từ 1 tới 3 năm của Doanh nghiệp Niêm yết phát hành thêm được nêu trong Bản cáo bạch, nhất là trong bối cảnh khó khăn về vốn như hiện nay.

Theo quy định về pha loãng cổ phiếu đối với việc phát hành thêm cho cổ đông hiện hữu, giá cổ phiếu PVA nếu nguyên mức 14.500 đồng/cp sẽ được điều chỉnh xuống thành 10.800 đồng/cp, tức là đã “bay” do điều chỉnh kỹ thuật khoảng 25,5%

Và với giá sau điều chỉnh còn 10.800 đồng/cp, thì chỉ cần hơn 1 phiên sàn là sẽ thấp hơn cả giá đặt mua theo mệnh giá, chưa kể số tiền nộp quá lớn so với gốc, nhiều nhà đầu tư không theo được cũng sẽ bán gốc để nộp mua, vô hình tạo một lực đánh “xuống” trong suốt quá trình đặt mua cổ phiếu. Và nếu không có đủ tiền nộp thì… mất trắng 25,5% kể trên.

Còn nếu nộp sẽ chịu một chi phí vốn không có tí lãi nào (ít nhất là gửi tiết kiệm ngân hàng kiếm 1,5%/tháng) do cổ phiếu đặt mua bị treo khoảng 02 tới 03 tháng trong quá trình chờ giao dịch phát hành thêm mà không thể làm gì được số cổ phiếu đó.

                                                                                              (Pierpont Bui thực hiện và Phân tích)

Saturday, August 27, 2011

Giá xăng dầu không minh bạch

Quyết định giảm giá 500 đồng/lít xăng và 300 đồng/lít dầu trong tối 26-8 đã khiến không ít người bất ngờ... 


Bơm xăng với giá mới ngày 27/08 tại Thái Lan
Các chuyên gia cho rằng việc giảm giá xăng dầu có thể thực hiện ở nhiều thời điểm trước nếu các khoản chi phí cấu thành giá bán lẻ được minh bạch thật sự và quyền lợi của người tiêu dùng được quan tâm đúng mức.

Giảm giá bằng cách nào?

Quyết định giảm 300-500 đồng/lít xăng dầu của Bộ Tài chính đã khiến nhiều người tiêu dùng bức xúc vì mức giảm quá ít. Nhiều người cho rằng khi giá thế giới tăng thì giá trong nước lập tức nhảy vọt theo, nhưng sau khi trì hoãn nhiều lần giá xăng mới chịu giảm nhưng lại giảm không đáng kể. Cụ thể, trong lần tăng giá ngày 29-3 và duy trì đến tối 26-8, giá xăng dầu các loại đã tăng tới 2.000-2.800 đồng/lít tùy loại. Lần trước đó, vào ngày 24-2, giá xăng A92 cũng tăng tới 2.900 đồng/lít và dầu diesel tới 3.550 đồng/lít.

Trong khi đó, giá xăng dầu thế giới liên tục giảm.

Thế nhưng, ông Đặng Vinh Sang - tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên Dầu khí Sài Gòn (Saigon Petro) - đã bày tỏ “ngạc nhiên” khi cho rằng cơ sở để giảm giá theo cách tính hiện hành của Bộ Tài chính là không có. Riêng với mặt hàng xăng A92, để giảm giá, doanh nghiệp (DN) sẽ phải giảm chiết khấu cho đại lý, bớt 400 đồng/lít từ mức chiết khấu hiện tại. Trong khi đó ông Vương Thái Dũng, phó tổng giám đốc Tổng công ty Xăng dầu VN (Petrolimex), không bình luận gì về quyết định của Bộ Tài chính và cho biết liên bộ Tài chính - Công thương theo dõi biến động giá thế giới, quyết định điều chỉnh giá trong nước và DN buộc phải chấp hành.

Hiện nay, Bộ Tài chính quy định cơ sở để điều chỉnh tăng/giảm giá bán lẻ xăng dầu trong nước là giá xăng dầu nhập khẩu tại Singapore trung bình 30 ngày tính từ ngày chốt thời điểm trở về trước. Với cách tính này, giá cơ sở trung bình 30 ngày vẫn cao hơn giá bán lẻ trong nước. Những lần quyết định không giảm giá bán lẻ trước đây, đó cũng là lý do được đưa ra trong các thông cáo báo chí của Bộ Tài chính. Cụ thể, giá cơ sở trung bình 30 ngày tính đến ngày 23-8: xăng A92 là 21.644 đồng/lít, dầu hỏa là 21.145 đồng/lít và dầu diesel là 20.966 đồng/lít. Trong khi đó, giá bán lẻ tại thời điểm trước khi giảm lần lượt là 21.300 đồng/lít, 21.100 đồng/lít và 20.800 đồng/lít.

Đầu tháng 8-2011, vấn đề giảm giá xăng dầu được đặt ra nhưng Bộ Tài chính đã quyết định không giảm. Đến nay phiên giao dịch ngày 24-8 xăng A92 có giá 120,5 USD/thùng. Tiếp đó, ngày 25-8 là 122,09 USD/thùng. Những ngày trước đó ở nửa sau tháng 8-2011, mức giá giao dịch chủ yếu trong khoảng 118-119 USD/thùng.

Nhiều ý kiến cho rằng với các điều kiện về giá thế giới như trên mà cơ quan điều hành giá xăng dầu có thể đưa ra được quyết định giảm giá chứng tỏ cơ sở giảm giá xăng dầu là hoàn toàn có được nếu dựa theo thực tế nhập khẩu, lời lỗ và điều chỉnh chi phí của DN. Hiện giá cơ sở đã bao gồm 300 đồng/lít lợi nhuận định mức, 600 đồng/lít chi phí kinh doanh định mức, trong khi số chi thực tế của khoản này hiện thấp hơn 100 đồng/lít và DN còn có thể giảm tiếp.

Do đó, việc giảm giá chưa hẳn đã khiến các DN phải chịu lỗ như giới kinh doanh mặt hàng này thường than thở. Điều này cũng cho thấy một số quy định giá cơ sở trung bình 30 ngày hiện không còn phù hợp với thực tế.

Thái Lan:  giá xăng giảm 5.500 đồng/lít

Theo báo Bangkok Post, bắt đầu từ 0g ngày 27-8, giá xăng bán lẻ ở Thái Lan giảm khoảng 8 baht (5.500 đồng)/lít vì chính phủ đồng ý dùng quỹ xăng dầu do các công ty lọc dầu đóng góp để trợ giá xăng dầu bán lẻ trong nước.

Cụ thể, bằng nguồn tiền từ quỹ xăng dầu và việc giảm thuế giá trị gia tăng, giá bán lẻ của dầu diesel giảm hơn 2.000 đồng/lít, giá xăng A91 giảm 5.000 đồng/lít và giá xăng A95 giảm 5.500 đồng/lít. Sau khi giảm giá, giá xăng A91 còn 24.100 đồng/lít, xăng A95 là 27.500 đồng/lít và giá dầu diesel còn 18.700 đồng/lít.

Theo báo The Nation, Ủy ban Chính sách năng lượng quốc gia do Thủ tướng Yingluck Shinawatra làm chủ tịch đã thông qua quyết định giảm giá hôm 26-8 nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí sinh hoạt của người dân, đặc biệt là người lao động có thu nhập thấp. Các chuyên gia Thái Lan cho biết giảm giá dầu diesel sẽ giúp giảm áp lực tăng giá đối với nền kinh tế thông qua việc giảm giá thành vận chuyển. Ngành vận tải dự báo giá vé xe buýt và xe khách có thể sẽ giảm.

Ước tính khoảng 10 triệu xe máy sử dụng xăng A91, 7 triệu xe tải, xe khách sử dụng dầu diesel và 1 triệu phương tiện sử dụng xăng A95 được hưởng lợi từ chính sách này.

Lời lỗ phải theo thực nhập

Theo các chuyên gia trong lĩnh vực xăng dầu, không thể kết luận DN lời hay lỗ để đưa ra quyết định tăng/giảm giá chỉ dựa theo giá trung bình tại Singapore mà phải theo giá cả nhập khẩu thực tế của DN đầu mối. Nhập ở thời điểm nào, số lượng nhiều hay ít là do nhà nhập khẩu chủ động. Giới kinh doanh xăng dầu cũng thừa nhận không ai dại gì nhập ồ ạt ở thời điểm giá đang có xu hướng lên. Với mặt hàng dầu diesel, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong tháng 6-2011 giá dầu diesel nhập khẩu nhiều thời điểm đã có lãi, các DN nhập tới 564.843 tấn, trong khi tháng 7-2011 giá tăng lên, lượng nhập chỉ 203.000 tấn. Nửa đầu tháng 8-2011 giá giảm lại nên lượng nhập khẩu tới 230.447 tấn.
Xem nhẹ quyền lợi người tiêu dùng
 
Ông Ngô Trí Long, nguyên phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, cho rằng việc giảm giá xăng dầu là tất yếu và diễn biến giá nhập khẩu cho thấy hoàn toàn có thể giảm được nếu điều hành linh hoạt, thay vì cứng nhắc theo quy định giá cơ sở mức trung bình 30 ngày.

Theo ông Long, với điều kiện giá thế giới trong thời gian gần đây mà cơ quan quản lý có thể giảm giá được, chứng tỏ nhiều thời điểm khác cũng có thể giảm. “Những thời điểm tốt hơn để giảm giá như trong tháng 6-2011 và đầu tháng 8-2011 mà không chịu giảm có nghĩa quyền lợi người kinh doanh được đặt nặng hơn quyền lợi người tiêu dùng” - ông Long nói.

Từ việc giảm giá xăng dầu ngày 26-8, dư luận đặt lại vấn đề tại sao trong tháng 6-2011 và nửa đầu tháng 8-2011 cơ quan điều hành lại không giảm? Cụ thể, theo số liệu từ Petrolimex, mức giá trung bình trong tháng 6-2011 của xăng A92 là 117,86 USD/thùng, nửa đầu tháng 8-2011 là 118,8 USD/thùng. Trong khi đó, giá trung bình trong 30 ngày trở lại đây khoảng 120,2 USD/thùng.

Tại các thời điểm trên, DN vẫn luôn than lỗ. Nhưng chiết khấu trong tháng 6-2011 và nửa đầu tháng 8-2011 lại ở mức quá cao, chủ yếu trong khoảng 700-900 đồng/lít xăng dầu tùy loại. Trong khi hiện nay mức chiết khấu còn 500-600 đồng/lít xăng, đại lý vẫn sống tốt và DN cho biết còn có thể giảm thêm. Như vậy việc giảm giá bán lẻ trong nước đã có thể thực hiện trước tối 26-8 rất nhiều nếu mỗi khâu trong chuỗi nhập khẩu - bán lẻ chịu san sẻ một phần quyền lợi với người tiêu dùng.

Bình luận về cơ chế điều hành giá, ông Ngô Trí Long cho rằng có quá nhiều điểm khuất tất, không minh bạch trong giá bán xăng dầu. Cách tính giá trung bình 30 ngày theo giá thế giới thay vì giá thực nhập của DN, nhiều khoản không rõ ràng giữa quy định và thực tế, phân phối lợi nhuận định mức được tính trong giá cơ sở nhưng DN vẫn cứ than lỗ... đã khiến thông tin về giá xăng dầu mù mờ. Theo ông Long, cơ chế định giá, kiểm soát giá bán lẻ xăng dầu cần phải được xem lại và sớm thực hiện kiểm toán giá bán mặt hàng này để công khai, minh bạch với người tiêu dùng.
                                                                                                                                (Theo Tuoitre)